Những dấu chấm câu

Có một người chẳng may đánh mất dấu phẩy. Anh ta trở nên sợ những câu phức tạp và chỉ tìm những câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ý nghĩ đơn giản.

Sau đó, không may, anh ta lại làm mất dấu chấm than. Anh bắt đầu nói khe khẽ, đều đều, không ngữ điệu. Anh không cảm thán, không xuýt xoa. Không gì có thể làm anh ta sung sướng, mừng rỡ hay phẫn nộ nữa cả. Đằng sau đó là sụ thờ ơ đối với mọi chuyện.

Kế đó, anh ta đánh mất dấu chấm hỏi và chẳng bao giờ hỏi ai điều gì nữa. Mọi sự kiện xảy ra ở đâu, dù trong vũ trụ hay trên mặt đất hay ngay trong nhà mình mà anh ta không biết, anh ta đánh mất khả năng học hỏi. Đằng sau đó là sự thiếu quan tâm với mọi điều.

Một vài tháng sau, anh ta đánh mất dấu hai chấm. Từ đó anh ta không liệt kê được, không còn giải thích được hành vi của mình nữa. Anh ta đổ lỗi cho tất cả, trừ chính mình.

Cứ mất dần các dấu, cuối cùng anh ta chỉ còn lại dấu ngoặc kép mà thôi. Anh ta không phát biểu được một ý kiến nào của riêng mình nữa, lúc nào cũng chỉ trích dẫn lời của người khác. Thế là anh ta hoàn toàn quên mất cách tư duy.

Cứ như vậy, anh ta đi đến dấu chấm hết.

Thiếu những dấu chấm câu trong một bài văn, có thể bạn chỉ bị điểm thấp vì bài văn của bạn mất ý nghĩa, nhưng mất những dấu chấm câu trong cuộc đời, tuy không ai chấm điểm nhưng cuộc đời bạn cũng mất ý nghĩa như vậy.

Mong bạn hãy giữ gìn những dấu chấm câu của mình, bạn nhé!

(Sưu tầm)

  

Làm bạn với dấu câu

Dấu câu phân biệt rạch ròi

Không dùng, chỉ có người lười nghĩ suy

Dấu nào cũng có nghĩa riêng

Mỗi dấu đặt đúng vào nơi của mình

Dấu phấy (,) thường thấy ai ơi

Tách biệt từng phần, chuyển tiếp ý câu

Dấu chấm (.) kết thúc ý rồi

Giúp cho câu viết tròn câu rõ lời .

Chấm phẩy (;) phân cách vế câu

Bổ sung vế trước, ý càng thêm sâu

Chấm than (!) bộc lộ cảm tình

Gửi gắm đề nghị, mong chờ, khiến sai

Chấm hỏi (?) để hỏi bao điều

Hỏi người và cả hỏi mình tài ghê!

Hai chấm (:) báo hiệu lời người

Còn là giải thích ý vừa nêu trên

Chấm lửng () xúc cảm dâng trào

Hay thay cho lời không tiện nói ra

Gạch ngang () lời nói mở đầu

Nêu ý chú thích liệt kê trong bài

Ngoặc đơn (    ) tách biệt từng phần

Làm rõ cho lời chú giải bên trong

Ngoặc kép (“  ”) trực tiếp dẫn lời

Đứng sau hai chấm hay dùng nhấn câu

Biết rồi em hãy siêng dùng

Viết dấu đúng chỗ, điểm mười nở hoa.

Cách sử dụng dấu câu trong Tiếng Việt

Dấu câu là phương tiện ngữ pháp dùng trong chữ viết. Tác dụng của nó là làm rõ trên mặt chữ viết một cấu tạo ngữ pháp, bằng cách chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần của câu đơn, giữa các vế của câu ghép, giữa các yếu tố của ngữ và của liên hợp. Nói chung, nó thể hiện ngữ điệu lên trên câu văn, câu thơ. Cho nên, có trường hợp nó không phải chỉ là một phương tiện ngữ pháp, mà còn là phương tiện để biểu thị những sắc thái tế nhị về nghĩa của câu, về tư tưởng, về cả tình cảm, thái độ của người viết.

 Dấu câu dùng thích hợp thì bài viết được người đọc hiểu rõ hơn, nhanh hơn. Không dùng dấu câu, có thể gây ra hiểu lầm. Có trường hợp vì dùng sai dấu câu mà thành ra sai ngữ pháp, sai nghĩa.Cho nên, quy tắc về dấu câu cần được vận dụng nghiêm túc.

Tuy vậy, cũng có trường hợp vận dụng quy tắc dấu câu cũng ít nhiều có tính chất linh hoạt. Nói chung, đó là khi mà dù không dùng dấu câu, ranh giới cũng đã rõ, và không gây ra lầm lẫn.

Hiện nay, tiếng Việt dùng mười dấu câu là:
1. dấu chấm .
2. dấu hỏi ?
3. dấu cảm !
4. dấu lửng …
5. dấu phẩy ,
6. dấu chấm phẩy ;
7. dấu hai chấm :
8. dấu ngang –
9. dấu ngoặc đơn ()
10. dấu ngoặc kép “ ”

(Theo Trung tâm KHXH&NV Quốc gia. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb Khoa học Xã hội, 2002, trang 277–278)

 1. Dấu chấm
1.1. Dấu chấm dùng ở cuối câu tường thuật.
Ví dụ:
 
Dòng sông lào xào vỗ sóng. Gió chạy loạt soạt trong cỏ, trăng đã lên cao, đêm đã khuya lắm. (Nguyễn Đình Thi)
 
1.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm. Dấu chấm là chỗ có quãng ngắt tương đối dài hơn, so với dấu phẩy, dấu chấm phẩy.
2. Dấu hỏi
2.1. Dấu hỏi dùng ở cuối câu nghi vấn.
2.1.1. Thường gặp là trường hợp dấu hỏi dùng trong đoạn văn đối thoại, có người hỏi, có người đáp.
Ví dụ:
 
Anh ốm, sao lại đi làm?
Ốm xoàng thôi.
 
2.1.2.Có trường hợp tự đặt ra câu hỏi và tự trả lời, trong lời đối thoại nghệ thuật.
 
Con ai chết trong dinh điền?
Con tôi. (Tế Hanh)
 
2.1.3. Có trường hợp, một vế của câu ghép được cấu tạo theo kiểu câu nghi vấn nhưng không phải để hỏi mà để nêu lên tiền đề; trong trường hợp này không dùng dấu hỏi.
Ví dụ:
 
Văn học nghệ thuật là gì, xưa nay người ta định nghĩa nhiều rồi. (Phạm Văn Đồng)
 
2.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu hỏi, và nói chung, có lên giọng.
2.3. Dấu hỏi có thể đặt trong dấu ngoặc đơn (?) để biểu thị thái độ hoài nghi đối với một lời trích thuật. Nếu dấu chấm (hay tương đương) ngắt câu ở cùng chỗ, thì dấu này đặt sau dấu chấm.
Ví dụ:
 
Bọn xâm lược Mĩ làm ra vẻ ngạc nhiên. Chúng chối biến rằng chúng không hề biết gì. (?) (Báo Nhân dân)
 
3. Dấu cảm
3.1. Dấu cảm dùng:
– Ở cuối câu cảm xúc.
Ví dụ:
 
Hỡi anh
Người đồng chí quang vinh! (Sóng Hồng)
 
– Hay ở cuối câu cầu khiến.
Ví dụ:
 
Hãy yêu quý thanh niên! Hãy trân trọng và tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ! (Tạp chí Học tập)
 
3.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu cảm và có thể hoặc lên hoặc xuống giọng, tuỳ hoàn cảnh.
3.3. Dấu cảm có thể đặt trong dấu ngoặc đơn: (!), để biểu thị thái độ mỉa mai; hay dùng kết hợp với dấu hỏi rồi đặt trong dấu ngoặc đơn: (!?), để biểu thị thái độ vừa mỉa mai, vừa hoài nghi.
Những dấu này cũng thường đặt sau dấu chấm, nếu có dấm chấm (hay tương đương) ngắt câu ở cùng chỗ.
Ví dụ:
 
Y còn đòi các nước sản xuất dầu mỏ “hợp tác” với Mĩ để giải quyết cả vấn đề dầu mỏ lẫn vấn đề lương thực (!) (Báo Nhân dân)
AFP đưa tin theo cách ỡm ờ của AFP.
“…họ là 80 người sức lực khá tốt nhưng hơi gầy…” (!?) (Nguyễn Tuân)
 
4. Dấu lửng
4.1. Dấu lửng dùng ở cuối câu (hay giữa câu, hay có khi ở đầu câu) để biểu thị rằng người viết đã không diễn đạt hết ý.
Ví dụ:
 
Lũ làng đi rửa tay thật sạch rồi cầm lên từng thứ, coi đi coi lại, coi Bok Hồ đi làm rẫy, coi cái áo Bok Hồ mặc… (Nguyên Ngọc)
 
4.2. Dấu lửng còn được dùng:
4.2.1. Để biểu thị bằng lời nói bị đứt quãng vì xúc động, hay vì lí do khác.
Ví dụ:
 
Sâm đè tay lên ngực, hít lấy mấy hơi mới nói được:
– Quên… rút chốt… (Phan Tứ)
 
4.2.2. Để biểu thị một chỗ ngắt đoạn dài giọng với ý châm biếm, hài hước.
Ví dụ:
 
Giơ tay hàng tuốt quân ta
Té ra công sự chỉ là công… toi (Tú Mỡ)
 
4.2.3. Để ghi lại một chỗ kéo dài của âm thanh.
Ví dụ:
 
Ù… ù… ù…
Tầm một lượt (Võ Huy Tâm)

4.3. Khi đọc, phải tuỳ trường hợp mà ngắt đoạn. Nói chung, ở dấu lửng, sự ngắt đoạn kéo dài…
4.4. Hiện nay có cách dùng dấu lửng trong ngoặc đơn: (…), để chỉ ra rằng người trích dẫn có lược bớt câu văn trích dẫn.

5. Dấu phẩy
5.1. Dấu phẩy được dùng để chỉ ranh giới bộ phận nòng cốt với thành phần ngoài nòng cốt của câu đơn và câu ghép.
Thành phần ngoài nòng cốt có thể là các thành phần than gọi, chuyển tiếp, chú thích, tình huống, khởi ý.
Ví dụ:
 
Mẹ ơi, có khách đấy!
Cuối cùng, Mỹ đã thua to.
Tôi trở về thành phố Hồ Chí Minh, thành phố thân yêu của tôi.
Thong thả, anh ấy bước ra.
Bài hát ấy, tôi nghe nhiều lần.
 
Đáng chú ý là:
– Khi thành phần tình huống đặt ở đầu câu, dấu phẩy có thể được lược bớt, nếu thành phần đó là một danh ngữ có cấu tạo đơn giản dùng để chỉ thời gian, nơi chốn.
Ví dụ:
 
Lúc ấy Mai cũng về tới bản Đảy. (Tô Hoài)
 
– Khi thành phần ấy là do động từ hay tính từ đảm nhiệm và đặt ở cuối câu thì rất cần dấu phẩy giữa nó và nòng cốt.
Ví dụ:
 
Lời trăn trối mang hồn người sắp chết
Vọng qua vách, trang nghiêm và thống nhất. (Nguyễn Dân Trung)
 
5.2. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong liên hợp, nhất là liên hợp qua lại.
Ví dụ:
 
Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp lâu dài và gian khổ, song nhất định thắng lợi. (Hồ Chí Minh)
 
Đáng chú ý là:
– Giữa các yếu tố của một liên hợp song song, khi đã dùng kết từ thì thường lược bớt dấu phẩy.
Ví dụ:
 
Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động cần phải xung phong gương mẫu trong sản xuất công tác.
 
-Giữa các yếu tố của một liên hợp song song có tính chất ổn định hoá, dấu phẩy cũng thường được lược bớt.
Ví dụ:
 
Hầm chông hố chông trong ruộng lúa tựa như được nước lụt che, thằng giặc chẳng biết đâu mà mò. (Anh Đức)
 
5.3. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép (song song hay qua lại).
Ví dụ:
 
Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi. (Hồ Chí Minh)
 
Đáng chú ý là:
Khi có dùng kết từ trong câu ghép song song hay qua lại thì có thể lược bớt dấu phẩy giữa các vế.
Ví dụ:
 
Chú Hai đã đi làm phu cao su ở Hớn Quản, lại ra làm thợ mỏ ở Đông Dương chú còn đi những chân trời góc bể đâu khác. (Tô Hoài)
Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. (Hồ Chí Minh)
 
5.4. Dấu phẩy có thể dùng để chỉ ranh giới giữa phần đề và phần thuyết trong những trường hợp sau đây:
5.4.1. Khi phần đề làm thành một đoạn khá dài.
Ví dụ:
 
Một trong những công việc cần phải thực hiện cấp tốc lúc này, là nâng cao dân trí. (Hồ Chí Minh)
 
5.4.2. Khi lược bớt động từ trong câu luận.
Ví dụ:
 
Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữa đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động. Tre, anh hùng chiến đấu. (Thép Mới)
 
5.4.3. Khi phần thuyết được đặt trước phần đề
Ví dụ:
 
Trong lịch sử có hai loại chiến tranh: chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa. Chính nghĩa, những cuộc chiến tranh chống bọn áp bức, bọn xâm lược, giành tự do, độc lập. Phi nghĩa, những cuộc chiến tranh xâm lược hoặc bình định cốt chiếm nước ngoài hoặc cướp tự do, hạnh phúc của một số người. (Trường Chinh)
 
Ngoài những trường hợp vừa kể thì giữa phần đề và phần thuyết của nòng cốt câu đơn, nói chung, không dùng dấu phẩy.
5.5. Dấu phẩy còn dùng vì lẽ nhịp điệu trong câu, nhất là khi nhịp điệu có tác dụng biểu cảm.
Ví dụ:
 
Bộ tư lệnh: những lớp tóc hoa râm
Những mái đầu trắng xoá
Vẫn có Bác, ung dung, trông xuống, dịu dàng. (Tố Hữu)
 
5.6. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu phẩy. Nói chung, quãng ngắt ở dấu phẩy tương đối ngắn, so với những dấu đã nói trên.
6. Dấu chấm phẩy
6.1. Dấu chấm phẩy thường dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép song song, nhất là khi giữa các vế có sự đối xứng về nghĩa, về cả hình thức.
Ví dụ:
 
Chị Thuận nấu cơm cho anh em ăn, làm người chị nuôi tần tảo; chị chăm sóc anh em ốm và bị thương, làm người hộ lí dịu dàng, ân cần… (Nguyễn Trung Thành)
 
Trong câu ghép song song mà vế sau có tác dụng bổ sung cho vế trước, cũng có thể dùng dấu chấm phẩy giữa hai vế.
Ví dụ:
 
Sáng tạo là vấn đề rất quan trọng; không sáng tạo không làm cách mạng được (Lê Duẩn)
 
6.2. Dấu chấm phẩy cũng có thể dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong một liên hợp song song bao gồm những ngữ.
Ví dụ:
 
Phải thực hiện bằng được chủ trương hoàn chỉnh các hệ thống thuỷ nông; đẩy mạnh tốc độ cơ giới hoá nông nghiệp; đẩy mạnh cải tạo giống gia súc và cây trồng nhằm thực hiện thâm canh trên toàn bộ diện tích trồng trọt (Báo Nhân dân)

6.3. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm phẩy; quãng ngắt dài hơn, so với dấu phẩy, nhưng ngắn hơn, so với dấu chấm.

7. Dấu hai chấm

7.1.Nói chung, dấu hai chấm dùng để báo hiệu một điều trình bày tiếp theo sau và có tác dụng thuyết minh đối với một điều đã trình bày trước.
7.1.1. Điều thuyết minh là một lời thuật lại theo lối trực tiếp.
Ví dụ:

Khoa kêu to:
Mình về đây! (Nguyễn Khải)

Hay theo lối gián tiếp:
Ví dụ:

Kha nghĩ: ba giờ đi. (Nguyễn Đình Thi)

7.1.2. Điều thuyết minh có tác dụng bổ sung, giải thích một từ hay một vế ở trước.
Ví dụ:

Chiến công kì diệu mùa xuân 1975 đã diễn ra trong thời gian rất ngắn: 55 ngày đêm. (Võ Nguyên Giáp & Văn Tiến Dũng)
Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya… (Xuân Diệu)

7.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu hai chấm, và cần có ngữ điệu thích hợp đối với điều thuyết minh.
8. Dấu ngang

8.1. Dấu ngang dùng để chỉ ranh giới của thành phần chú thích.
Ví dụ:

Chồng chị – anh Nguyễn Văn Dậu – tuy mới hai sáu tuổi nhưng đã học nghề làm ruộng đến mười bảy năm.[1] (Ngô Tất Tố)

8.2. Dấu ngang còn dùng để:
8.2.1. Đặt trước những lời đối thoại.
Ví dụ:

– Hai bác đã đặt tên cho cháu chưa?
– Rồi.

8.2.2. Đặt ở đầu những bộ phận liệt kê, mỗi bộ phận trình bày riêng thành một dòng.
Ví dụ:

Thi đua yêu nước để:
– Diệt giặc dốt
– Diệt giặc đói
– Diệt giặc ngoại xâm. (Hồ Chí Minh)

8.2.3. Đặt ở giữa hai hay ba, bốn tên riêng, hay ở giữa con số để ghép lại, để chỉ một liên danh, một liên số.
Ví dụ:

Đường Hà Nội – Huế – Sài Gòn
Xô viết Nghệ – Tĩnh
Thời kì 1939 – 1945

8.2.4. Cần phân biệt dấu ngang là một dấu câu với dấu gạch nối không phải là dấu câu.
Dấu gạch nối, hiện nay, thường được dùng trong những trường hợp phiên âm tên người, tên địa phương nước ngoài.
Ví dụ: Lê-nin, Lê-nin-grát
Dấu gạch nối cũng còn được dùng trong những từ chung phiên âm từ tiếng nước ngoài, ví dụ: pô-pơ-lin
Cho nên, có khi, cần phân biệt dấu ngang với dấu gạch nối bằng độ dài của dấu đó (dấu ngang dài hơn).
Ví dụ: Chủ nghĩa Mác – Lê-nin
9. Dấu ngoặc đơn

9.1. Dấu ngoặc đơn cũng dùng để chỉ ranh giới của thành phần chú thích.
Ví dụ:

Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tôi làm thuê ở Pa-ri, khi thì làm cho một cửa hàng phóng đại ảnh, khi thì vẽ “đồ cổ mĩ nghệ Trung Hoa” (do một xưởng của người Pháp làm ra!). (Hồ Chí Minh)

9.2. Sự khác nhau giữa dấu ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ; theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng dấu kia, đối với thành phần chú thích.
Tuy vậy, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu đó có sự khác nhau sau đây:
Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước nó, thì thường dùng dấu ngang; nếu quan hệ đó không rõ thì thường dùng dấu ngoặc đơn.
Ví dụ:

Tôi vừa gặp lại anh Thân – người chỉ huy đơn vị của tôi, hồi chiến tranh chống thực dân Pháp.
Anh ấy không đến dự đám cưới của Lan (bảo là bận!) nhưng mọi người đều hiểu anh ấy không tán thành đám cưới này.

Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để đóng khung cho một từ hay một ngữ có tác dụng chú thích cho một từ không thông dụng (từ cổ, từ địa phương…).
Ví dụ:

Tiếng trống của phìa (lí trưởng) thúc gọi nộp thuế vẫn rền rĩ. (Tô Hoài)

Một loại dấu đôi nữa, có mở ra rồi có đóng vào giống như dấu ngang và dấu ngoặc đơn, và cũng được dùng để chú thích thêm trong một số trường hợp đặc biệt, là dấu móc: [].
Trong trường hợp nhắc lại một văn bản, mà cần chú thích, đồng thời lưu ý người đọc rằng chú thích đó là ở ngoài văn bản thì dùng dấu móc.
Ví dụ:

Mậu thân Thuận Thiên năm thứ nhất [1428]… người Minh đã về nước, vua bèn thống nhất thiên hạ, lấy năm ấy là năm dẹp yên. (Dịch “Đại Việt Sử kí toàn thư”)

3. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu ngoặc đơn và cũng như trong trường hợp dấu ngang, ngữ điệu phải thích hợp đối với thành phần chú thích.
10. Dấu ngoặc kép

10.1. Dấu ngoặc kép dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp.
Ví dụ:

Sau khi đến được ba ngày, anh hỏi tôi: “Anh Dân, anh có biết chữ quốc ngữ không?”. Tôi hơi thẹn nhưng trả lời thành thật: “Không, tôi không biết”. (Trần Dân Tiên)

Có khi, ý hoặc lời được thuật lại là một danh ngôn, một khẩu hiệu,…
Ví dụ:

Chế độ ta là chế độ mới, nhân dân ta đang trau dồi đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa của những người lao động “ta vì mọi người, mọi người vì ta”. (Hồ Chí Minh)

10.2. Dấu ngoặc kép còn dùng để dẫn lại với thái độ mỉa mai, một từ hay ngữ do người khác dùng; trong trường hợp này, dấu ngoặc kép còn được gọi là dấu “nháy nháy”.
Ví dụ:

Chúng đề xướng nào là văn nghệ “chủ quan”, “viễn kiến”, nào là triết lí “duy linh”…

Vấn đề sử dụng dấu câu không đúng cách

Một nguyên tắc quan trọng của nghề báo là quan tâm tới bạn đọc (tạo sự dễ dàng cho bạn đọc khi họ đọc báo). Nguyên tắc này hay bị xem nhẹ. Một số phóng viên chỉ viết sao cho thuận tiện cho mình, không chịu sửa lỗi, cho rằng đó là việc của tòa soạn. Một số biên tập viên, vì nhiều lý do – trong đó có lý do được viện dẫn nhiều nhất là “không có thời gian” – đã để cho các sai sót xuất hiện trên mặt báo. Các ban biên tập thì chưa chú ý đúng mức đến chuyện này.

Nhà báo có thể quan tâm tới bạn đọc bằng nhiều cách, trong đó chủ yếu là bằng cách kiểm tra hình thức, kiểm tra nội dung. Ngoài ra, còn phải kiểm tra mức độ dễ hiểu, khó hiểu của thông tin, kiểm tra những vấn đề thuộc phạm vi luật pháp và đạo đức, và kiểm tra cấu trúc bài báo.

Trong kiểm tra hình thức, có kiểm tra việc sử dụng dấu câu; sử dụng có đúng hay không, có lạm dụng hay không. Và đây là chủ đề chính của bài này. Những vấn đề khác sẽ được trình bày vào dịp khác.

Theo nhà văn Pháp Henri de Montherlant, đánh dấu câu đúng là dấu hiệu cho thấy “nhà ta ngăn nắp”. Dấu câu cũng quan trọng như là văn bản. Lúc còn sống, ông cũng cho biết ông rất muốn dạy ở Sorbonne (đại học hàng đầu của Pháp) một lớp về dấu chấm và dấu phẩy.

Dấu câu là một công cụ ngữ pháp được dùng để diễn đạt bài viết sao cho rõ ràng. Về mặt cú pháp và ngữ nghĩa, người ta dùng dấu câu để phân ranh giới các câu, vế câu (của câu ghép), thành phần câu và các yếu tố tạo ra cụm từ và ngữ. Về mặt ngữ điệu, dấu câu được dùng để ngắt các quãng nghỉ dài, ngắn khi nói.

Có lúc dấu câu là bắt buộc, có lúc không. Có những dấu câu có thể thay thế nhau khi đảm nhiệm cùng một chức năng. Thế nhưng lắm người cầm bút không chịu học cách dùng dấu câu. Một số còn không biết phân biệt các loại câu của tiếng Việt. Thường mỗi loại câu phải đi với dấu câu tương ứng ở cuối câu. Tùy theo mục đích của lời nói, người ta phân biệt bốn kiểu câu: tường thuật, nghi vấn, mệnh lệnh (hoặc cầu khiến) và cảm thán.

Dùng không đúng dấu phẩy

Dấu phẩy là một chỉ dẫn về nghĩa rất quan trọng nhưng lại được dùng không đúng cách nhiều nhất. Một dấu phẩy đặt không đúng chỗ có thể gây chết người, thiếu một dấu phẩy có thể mất người yêu.

Giáo sư Nguyễn Đức Dân có kể một giai thoại hiện đại về dấu phẩy như sau: Một chàng trai nghèo đi xuất khẩu lao động để kiếm tiền cưới vợ. Do những biến động xã hội ở xứ người, thư từ giữa chàng trai với người yêu không đều đặn. Sau vài tháng không nhận được tin, cô gái viết thư qua đòi anh cho biết dứt khoát. Được thư, chàng trai hốt hoảng viết vội ba chữ: “Đừng chờ anh !” Cô gái được thư bèn đi lấy chồng. Một thời gian sau, chàng trai về nước. Anh trách cô gái bội ước. Cô mới lấy thư ra. Chàng trai té ngửa. Anh đã viết thiếu một dấu phẩy. Thực tế anh muốn viết : « Đừng, chờ anh ! » (1)

Người ta dùng dấu phẩy để phân chia các thành phần của câu, đặc biệt là thành phần bổ túc nghĩa, chú thích và xen. Dấu này cũng được dùng để ngăn cách những từ đồng một nhiệm vụ với nhau. Khi đọc đến dấu phẩy phải ngừng một lát. Thời gian nghỉ của dấu phẩy ngắn hơn so với dấu chấm và các dấu khác.

“Chúng tôi đã chuyển thư của ông phản ảnh về việc doanh nghiệp chậm trễ phát quà khuyến mãi đến báo Sài Gòn Tiếp thị, là tuần báo phục vụ người tiêu dùng.” Dấu phẩy sau từ “Tiếp thị” và từ “là” không được chỉnh. Nên viết “…Sài Gòn Tiếp thị là tuần báo phục vụ người tiêu dùng.”; hoặc “…Sài Gòn Tiếp thị, tuần báo phục vụ người tiêu dùng.”

“Ông Trần Kiều, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục cho biết, từ năm 1990, Bộ GD – ĐT đã triển khai thực nghiệm môn tin học tại hơn 100 trường PTTH.” Ở đây, “Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục” là thành phần chú thích cho “ông Trần Kiều”. Trước và sau cụm từ này đều có dấu phẩy để làm ranh giới.

Có báo dùng không đúng cả dấu phẩy lẫn dấu ngang: “Trước thềm năm học mới, chúng tôi đã trao đổi với ông Bùi Đức Tráng – Giám đốc BHYT TP Hồ Chí Minh, về một số vấn đề liên quan đến hoạt động bảo hiểm y tế học sinh sinh viên năm học 2001 – 2002 …” Ở đây, đã dùng dấu ngang ở đầu thành phần chú thích thì phải tiếp tục dùng dấu này ở cuối thành phần chú thích, chứ không thể dùng dấu phẩy. Cũng có thể dùng dấu phẩy thay thế cho dấu ngang.

Ngoài ra, còn gặp trên các báo những kiểu sai và lạm dụng dấu câu như sau:

1. Đánh dấu chấm hỏi sau những câu không phải là câu hỏi; không đánh dấu hỏi sau những câu nghi vấn trực tiếp

“Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào người ta cũng hỏi ý kiến Văn phòng KTST ?” Cuối câu này phải dùng dấu chấm. Đây không phải là câu hỏi trực tiếp. Không phải cứ thấy “hỏi” là tự động đánh dấu chấm hỏi (KTST là viết tắt của kiến trúc sư trưởng).

“Tiền đâu để đền bù giải tỏa, di dời, xây dựng khu ở mới cho cả ngàn hộ dân …” Câu này thiếu dấu hỏi, thừa dấu chấm lửng. Đây là câu nghi vấn trực tiếp, từ “đâu” biểu hiện cho loại câu hỏi.

“Học sinh làm bài xong chưa ?” thì phải đánh dấu hỏi, còn “Thầy giáo muốn biết học sinh đã làm xong bài chưa” thì không cần vì là câu nghi vấn gián tiếp.

2. Đánh dấu chấm than sau những câu không phải là câu cảm thán hay cầu khiến

“Nếu hướng dẫn của các bộ ngành liên quan chưa phù hợp hoặc trong quá trình thực hiện có những vấn đề phát sinh vượt quá thẩm quyền các bộ ngành thì Bộ Thương mại phải tổng hợp báo cáo Thủ tướng xem xét quyết định!”. Câu này là câu tường thuật.

Câu cảm thán là loại câu được dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất định những tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tinh thần khác thường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ám chỉ.

3. Không biết dùng dấu hai chấm

“Trong nỗ lực tìm kiếm thị trường mới và đẩy nhanh các cuộc xúc tiến thương mại tại Campuchia, trong 4 ngày từ ngày 2 đến ngày 5-7, một đoàn cán bộ, doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh gồm: Sở Thương mại, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Ban chủ nhiệm CLB Hàng Việt Nam chất lượng cao TPHCM do bà Huỳnh Thị Nhân, Phó Chủ tịch UBNDTPHCM dẫn đầu đã đi thăm và làm việc tại các tỉnh: TàKeo, Candal và thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia).”

Sau “gồm”, sau “các tỉnh” không cần thiết phải dùng dấu hai chấm. Câu trên còn nhược điểm là quá dài (88 chữ), cần phải được ngắt ra làm ba.

Thông thường, sau “rằng” và “là”, người ta cũng không dùng dấu hai chấm. Theo giáo sư Cao Xuân Hạo, trong tiếng nói bình thường, hai từ trên, khi được dùng làm liên từ sau các từ nhận thức – phát ngôn như biết, nghĩ, cho, nói, bảo, không bao giờ mang trọng âm cho nên chúng được phát âm liền với từ đi sau và được tách rời khỏi từ đi trước. Theo ông, việc dùng hai dấu chấm sau “là” và “rằng” đã dẫn đến những chỗ ngừng rất kỳ quặc trong cách ngắt câu của các phát thanh viên. (2)

Sau “như”, cũng không nên dùng hai chấm. Chỉ dùng dấu này sau “như sau”.

4. Biểu thị sai sự châm biếm hay nghi ngờ

Có thể dùng dấu chấm than trong ngoặc đơn (!) để biểu thị ý mỉa mai, phê phán hoặc dùng kết hợp với dấu hỏi để biểu thị ý vừa mỉa mai, phê phán vừa nghi ngờ (?!). Nhưng một số nhà báo không biết cách dùng chung dấu hỏi với dấu than.

“1985, một đêm mưa tầm tã, trên chuyến tàu từ Cần Thơ đưa người dân tình nguyện ra Côn Đảo, đôi vợ chồng ấy vừa cố che cho ba đứa trẻ thơ khỏi ướt mà lòng rối bời: không biết tương lai ở vùng đất mới có sáng hơn những ngày qua ?!”

Không có gì đáng để diễu cợt trong câu trên cả. Câu trên còn có chỗ sai khác, chẳng hạn “những ngày qua” không thể cân với “vùng đất mới”. Cần sửa lại toàn câu như sau:

“Năm 1985, vào một đêm mưa tầm tã, trên chuyến tàu từ Cần Thơ đưa người dân tình nguyện ra Côn Đảo, có một đôi vợ chồng cố che cho ba đứa trẻ thơ khỏi ướt mà lòng rối bời. Họ tự hỏi: Không biết tương lai ở vùng đất mới có sáng sủa hơn quá khứ ở vùng đất cũ ? ”

5. Lạm dụng ngoặc kép

Ngoặc kép được dùng để đánh dấu lời nói được trích dẫn trực tiếp, đóng khung tên riêng, tên tác phẩm; đánh dấu những từ ngữ được hiểu theo nghĩa khác. Người viết còn dùng nó để lưu ý người đọc về một từ, cụm từ nào đó (mà ở đó người viết có thể biểu thị thái độ mỉa mai, châm biếm).

Nhưng lắm lúc, do vốn từ nghèo nàn, người viết đã dùng ngoặc kép để đánh dấu từ ngữ, buộc bạn đọc phải hiểu những từ ngữ được đánh dấu đó theo nghĩa bóng, đẩy khó khăn về phía bạn đọc.

Có báo – chỉ trong một số báo – đã dùng quá nhiều ngoặc kép trong các tít, tít phụ : Không thể “sống chung với tham nhũng” !; Phong trào “Quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc” (tít phụ) ; Chương trình “3 giảm” góp phần an dân và làm thay đổi bộ mặt thành phố; Có gì mới trong việc “bắt buộc đội nón bảo hiểm”?; Làm “sáng” lại những quán “đèn mờ”; Nhức nhối “cà phê công nghiệp”; “Ngôi sao” 13 ngày tuổi; NOVA VoiceCenter “Đường dây nóng” giữa khách hàng và doanh nghiệp; Từ “đọc chậm” đến “đọc nhanh”; Thị trường xe gắn máy “bội thực” (tít phụ) ; Đâu rồi vai trò quản lý Nhà nước ? ; Khi hiệp hội là “cầu nối”. Hầu hết các ngoặc kép ở đây đều không cần thiết.

6. Lạm dụng dấu chấm hỏi và dấu chấm than

Nhiều tờ báo đang để cho dấu chấm hỏi xuất hiện một cách vô nguyên tắc, thừa thãi, đặc biệt trong tít. Ngày nào giở báo ra cũng thấy có dấu hỏi.

“Đăng ký kết hôn với người nước ngoài ?”. Đăng ký như thế nào thì phải cho biết luôn (một cách tóm tắt).

“Hình dáng nào cho SaPa ?”. Tốt hơn hết là nên nói rõ ra: khuyến khích xây nhà vườn, hạn chế nhà phố (ý chính của bài).

“Kinh tế phát triển chậm nhưng lại bội thu ngân sách – Mừng hay lo ?”. Lo thì nói lo, mừng thì nói mừng, đừng hỏi.

“Doanh nghiệp Việt Nam sẽ ‘tranh tụng’ với Mỹ về cá basa ?”. Đây là tít của một bài báo trong đó nói rõ rằng Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam đã thuê công ty luật White & Case của Mỹ làm tư vấn cho vụ kiện chống phá giá cá basa. Vụ kiện này do Hiệp hội các Chủ trang trại Cá nheo Mỹ đâm đơn tại Mỹ. Hiệp hội này cho rằng phía Việt Nam đã bán phá giá cá basa và cá tra tại Mỹ ( bán phá giá có nghĩa là bán một sản phẩm nào đó với giá thấp hơn tại thị trường nước ngoài so với giá mình bán tại thị trường trong nước).

Phải chăng người viết muốn cho giật gân khi đánh dấu hỏi ?

Tít có hai chức năng chính: thu hút sự quan tâm và cung cấp một thông tin. Thông thường, tít là sự tóm tắt rất ngắn gọn nội dung của bài. Nó báo cho người đọc biết về nội dung. Cần thiết phải giúp bạn đọc, khi đọc tít, nắm bắt phần cơ bản nhất của thông tin trong bài. Trong thực tế, làm được việc này không dễ. Vì thế nên mới có loại tít chấm dứt bằng dấu hỏi chăng ?

Theo Françoise Giroud, không bao giờ được đánh dấu hỏi trong tít. Nhà báo Pháp tên tuổi này nói rằng một tờ báo phải trả lời cho các câu hỏi của bạn đọc chứ không được đánh đố bạn đọc. (3)

Dấu chấm than cũng hay bị lạm dụng. Có bài tuy ngắn nhưng có nhiều câu dùng dấu chấm than để cảm thán và ở gần nhau, một cách không cần thiết: “Tất cả đều nhờ trái vải!” ; Nhưng mừng đó rồi cũng lo đó!”; “Vì mùa thu hoạch vải thiều chỉ khoảng 45 ngày, quả tươi không tiêu thụ hết thì chỉ còn cách sấy khô, mà thị trường tiêu thụ chính của vải sấy là Trung Quốc nên khi họ ngưng mua thì nông dân dở khóc dở cười!”

Cú pháp tiếng Việt

I. Cú Pháp
Cú pháp là phép tắc dùng các tiếng để đặt câu văn cho chỉnh. Cú pháp là linh hồn của ngôn ngữ. Muốn viết văn cho đạt và muốn nói cho hay, ta phải sành về cú pháp. Muốn sành về cú pháp, ta phải hiểu thế nào là câu văn, các loại câu văn, mệnh đề, các loại mệnh đề, cùng cấu trúc của chúng.

II. Câu Văn
Câu văn là sự kết hợp của nhiều tiếng để diễn tả một sự việc (sự tình) hay nhiều sự việc một cách đầy đủ, có ý nghĩa, và có liên quan với nhau.
Khi nói hết một câu, ta ngừng lại hay thôi không nói nữa. Khi viết một câu văn, ta viết hoa mẫu tự đầu của chữ ở đầu câu. Ở cuối mỗi câu, tùy từng trường hợp, ta dùng dấu chấm (.), dấu chấm hỏi (?), dấu chấm than (!), hay ba chấm (…). Trong một câu, ta còn dùng dấu phẩy (,) và chấm phẩy (;) để phân các chữ, các nhóm chữ, và các mệnh đề. Mỗi câu văn gồm có một hay nhiều mệnh đề.

III. Mệnh Đề Mệnh đề là lời diễn tả kết quả của một sự phán đoán. Nếu có đầy đủ ý nghĩa, một mệnh đề tự nó đã là một câu. Đó là câu đơn. Nếu trong một câu có nhiều mệnh đề thì câu đó là câu tổng hợp hay câu phức.
Các mệnh đề được xếp thành ba loại: mệnh đề độc lập, mệnh đề chính, và mệnh đề phụ. Vậy, mệnh đề là một thành phần của một câu. Mỗi mệnh đề gồm có tối thiểu một chủ từ và một động từ, trừ những trường hợp tỉnh lược, nhất là trong câu hỏi và trả lời.
Thí dụ: 1. Cô Hồng đi vắng. (Mệnh đề độc lập). 2. Quyển sách này là của tôi và quyển kia là của anh. (Hai mệnh đề độc lập). 3. Tại xe hỏng, tôi không lại thăm anh được. (Mệnh đề phụ và mệnh đề chính). 4. Dừng lại! (Chủ từ hiểu ngầm hay được tỉnh lược: Anh hay các anh dừng lại). 5. Anh Hải đến chưa? – Chưa. (Anh Hải chưa đến. Chủ từ Anh Hải và động từ đến được tỉnh lược trong câu trả lời Chưa.)

IV. Phân Loại Câu Văn
1. Theo cách cấu tạo câu, ta có hai loại câu văn: câu đơn và câu tổng hợp (câu phức). Câu đơn diễn tả một sự việc, câu tổng hợp (câu phức) diễn tả nhiều sự việc. Câu tổng hợp có từ hai mệnh đề trở lên: mệnh đề độc lập, mệnh đề chính, và mệnh đề phụ. Thí dụ: a.Câu Đơn chỉ có một mệnh đề: Tôi xin lỗi anh! b.Câu Tổng Hợp (câu phức) có nhiều mệnh đề (m.đ.): Xin lỗi anh (m.đ. độc lập), tôi không đến dự phiên họp được (m.đ. độc lập). Vì hôm qua xe hỏng (m.đ. phụ), tôi không đến dự phiên họp được (m. đ. chính). Tôi xin lỗi anh (m.đ. độc lập), vì hôm qua xe hỏng (m.đ. phụ), tôi không đến dự phiên họp được (m.đ. chính).

2. Theo ngữ điệu của câu, tức là theo giọng khi ta nói câu đó, chúng ta có ba loại câu: a. Câu nói theo giọng thường: Mẹ đã về chợ. b. Câu nói theo giọng hỏi: Mẹ đã về chợ? (Dùng để hỏi lại xem có đúng không). c. Câu nói biểu lộ tình cảm: Mẹ đã về chợ! (Người con reo mừng khi thấy mẹ về chợ). Ngoài ra muốn nhấn mạnh vào chữ nào, ta nói chữ đó với giọng cao hơn trong câu nói theo giọng thường, chẳng hạn như ta nói: ?oAnh phải làm ngay việc đó.? hay ?oAnh phải làm ngay việc đó.?

3. Theo cách nói xác định, phủ định, hay nghi vấn (hoài nghi), ta có ba loại câu:
a. Câu Xác Định diễn tả sự việc có xảy ra: Cô ta ngâm thơ. Trong các câu xác định, ta còn dùng các trạng từ sau để tăng thêm ý xác định: có (Nhà tôi có ở nhà.), chính (Chính cô ta đã nói.), tự (Anh hãy tự trách mình.), phải (Cô ta phải đi.), chỉ (Chỉ có anh mới làm được việc ấy.), mới (Tôi mới thấy cô ta.), duy (Duy có anh mới xứng đáng chức vụ ấy.), toàn (Họ toàn là người tốt.), tinh (Họ ăn tinh những rau.), rặt (Bọn họ rặt là đồ tồi.), thuần (Cô ta mặc thuần một màu đen.), những (Cô ta mua những mười cái áo dài.), v.v.

b. Câu Phủ Định diễn tả sự việc không xảy ra: Cô ta không đi dự tiệc. Trong các câu phủ định, ta thường dùng các phủ định trạng từ như: không (Chúng nó không tới.), chẳng (đồng nghĩa với không nhưng có ý quả quyết hơn: Chúng nó chẳng làm được gì ra hồn.), chớ (Chớ thấy người sang bắt quàng làm ho.ỉ), đừng (Đừng nghe những gì con gái nói), chưa (Cái gì cũng chưa xong.), há (Anh ấy há phải con người vô ơn bạc nghĩa. Tôi một lòng vì nghĩa há vì danh lợi.), phi (Phi những người học rộng tài cao, không ai làm được việc đó.), bao giờ (Tôi có làm thế bao giờ.), đâu (Của đâu mà cho nó hoài. Tôi biết đâu việc đó.), v.v.

Người ta còn dùng những tiếng phiếm chỉ đại danh từ ai, người nào, và cái gì, v.v. kèm với các phủ định trạng từ chẳng, không, cũng, cũng không, và chưa, v.v. để diễn tả ý phủ định một cách mạnh hơn: Chẳng ai ưa hắn. Không người nào lai vãng đến đây. Chưa cái gì hoàn tất cả. Người nào cũng không thích. Cái gì cũng tệ!

Ngoài ra, người ta còn dùng các trạng từ như: nào, dễ, dám, quản, xiết, còn, kể, và chắc, v.v. để nhấn mạnh nghĩa phủ định của câu văn. Thí dụ: Nào tôi có làm thế bao giơ! Đã dễ gì nó làm được việc đó mà anh lo. Tôi đâu dám sai lời. Quản bao tháng đợi năm chờ (Kiều, câu 553). Khóc than khôn xiết sự tình (Kiều, câu 73). Còn chi là cái hồng nhan (Kiều, câu 3101). Kể chi những nỗi dọc đường (Kiều, câu 1527). Chắc gì nó làm xong việc ấy.

c. Câu Nghi Vấn để hỏi hay để tỏ ý hoài nghi: Cô ta có đến không? Cuối câu nghi vấn bao giờ cũng phải có dấu hỏi (?) . Muốn đặt câu hỏi, người ta thường dùng các trạng từ nghi vấn, chứ không cần đảo ngược vị trí chủ từ và động từ như trong tiếng Anh tiếng Pháp.

Người ta thường dùng các trạng từ sau đây trong câu hỏi: không (Anh đi không?), có…không (Cô có đi không?), chưa (Anh đọc quyển sách này chưa?), đã…chưa (Anh đã đọc quyển sách này chưa?), à (Thật như thế à?), nhỉ, a (Da mồi tóc bạc ta già nhỉ? Aó tía đai vàng bác đấy a ?), ư (Thật thế ư?), tá (dùng trong văn chương để tự hỏi mình: Người xưa đâu tá?), và hử hay hở (Làm gì thế hử? Ngã như thế có đau không hở?).

Trong các câu hỏi về người, ta dùng tiếng nghi vấn đại danh từ: ai (Ai đi với nó?Nó nói chuyện với ai vậy?). Người ta còn dùng tiếng nghi vấn chỉ định từ nào đặt sau các danh từ ông, bà, anh, chị, người v.v. để hỏi: Ông nào? Người nào chào anh vậy? Bà nào đứng đằng kia? Trong số các anh này, chị chọn anh nào? Chị nào tình nguyện?

Trong các câu hỏi về sự vật, người ta dùng tiếng chỉ định từ gì, chi, nào,v.v.để hỏi: Cái này là cái gì? Anh hỏi cái chi? Anh đi đường nào? Trong hai việc, anh chọn việc nào? Ngoài ra, người ta còn dùng các trạng từ nghi vấn như: sao, làm sao, thế nào, tại làm sao, bao nhiêu, mấy, bao giờ, bao lâu, đâu, bao xa, v.v. để đặt câu hỏi: Anh nói sao? Làm sao anh ra nông nỗi này? Anh thấy cô ta thế nào? Tại làm sao anh không đi? Tất cả có bao nhiêu người đến dự? Em học lớp mấy? Bao giờ cô ta về? Anh đi bao lâu? Cô ở đâu đến? Từ nhà anh đến đó bao xa ?

V. Thành Phần Căn Bản Của Câu Đơn và Mệnh ĐềMột câu đơn hay mệnh đề thường có hai phần căn bản: chủ từ và thuật từ. Thí dụ: 1.Tôi đi xe điện ngầm. 2.Con chó đen đang chạy ngoài sân. 3.Cám ơn cô. 4. Bao giờ anh đi Orlando? – Mai.
Trong câu 1, chủ từ là Tôi và thuật từ là đi xe điện ngầm. Trong câu 2, chủ từ là Con chó đen và thuật từ là đang chạy ngoài sân. Trong câu 3, chủ từ được hiểu ngầm là Tôi và thuật từ là Cám ơn cô. Trong câu 4, ở câu trả lời Mai, chủ từ tôi và thuật từ đi Orlando được hiểu ngầm. Khi trả lời Mai, ta có ý nói: Mai tôi đi Orlando.

1.Chủ Từ: Chủ từ là một chữ hay một nhóm chữ trong câu. Chủ từ giữ vai trò làm chủ hành động hay tình huống được diễn tả trong câu đó. Phải có một chủ từ mới thành câu văn. Tuy nhiên, câu văn có thể có chủ từ tỉnh lược, tức là chủ từ được hiểu ngầm như được trình bày trong thí dụ 3 và 4 ở trên. Trong một nhóm chữ dùng làm chủ từ, có một hay nhiều tiếng chính làm chủ từ, các tiếng khác là tiếng phụ dùng để làm rõ nghĩa cho chủ từ.
Trong thí dụ ?oCon chó đen đang chạy ngoài sân,? nhóm chữ Con chó đen là chủ từ của động từ đang chạy. Trong nhóm chữ này, chữ chó là tiếng chính làm chủ từ của câu. Chữ con, tiếng loại từ, làm rõ nghĩa cho chữ chó. Chữ đen, tiếng tính từ, bổ nghĩa cho chữ chó. Trong thí dụ ?oBàn, ghế, và tủ trong nhà đều là của cô ta,? nhóm chữ ?obàn, ghế, và tủ trong nhà? là chủ từ của câu. Trong nhóm chữ này, ba tiếng bàn, ghế, tủ là những tiếng chính dùng là chủ từ. Chữ và là liên từ; giới từ trong và danh từ nhà là những tiếng bổ nghĩa cho chủ từ ?oBàn, ghế, và tủ.?

2.Thuật Từ : Phần của câu ngay sau chủ từ được gọi là thuật từ. Phần thuật từ có thể rất đơn giản hay rất phức tạp. Phải có thuật từ mới thành một câu. Tuy nhiên, thuật từ có thể được hiểu ngầm hay tỉnh lược như trong thí dụ 4 ở trên. Tiếng chính trong phần thuật từ là động từ; những chữ khác có thể là trạng từ và túc từ của động từ cùng các bổ từ khác. Thuật từ dùng để thuật về chủ từ, tức là nói rõ chủ từ là gì, làm cái gì, làm sao, ở đâu, thế nào, v.v. Trong thí dụ ?oCon chó đen đang chạy ngoài sân,? nhóm chữ ?ođang chạy ngoài sân? là thuật từ của chủ từ ?oCon chó đen.?

Từ và cụm từ chuyển tiếp

Việc dùng từ và cụm từ chuyển tiếp
sẽ giúp bài viết nghe trôi chảy vì bài viết mạch lạc, chặt chẽ hơn nhiều.

Một bài viết chặt chẽ phải là bài viết khiến người đọc
có thể bám sát nội dung từ đầu đến cuối.

Từ nối tạo ra các mối liên quan,
giữa câu này với câu kia, giữa đoạn này và đoạn khác.
Dưới đây là danh sách một số từ chỉ quan hệ có thể có giữa các câu hoặc đoạn văn:

Bổ sung:
cũng, bên cạnh, ngoài ra, thêm vào đó, hơn thế nữa, một lần nữa.

Hệ quả:
theo đó, kết quả là, vì vậy, vì thế, nói cách khác, vì thế nên, do vậy, nên, vì thế suy ra.

Tóm tắt:
sau cùng, nói chung, cân nhắc mọi yếu tố, nói tóm lại, nói chung, trong mọi trường hợp thì, tóm lại một điều, kết luận là, nói chung, nói vắn tắt, tóm tắt lại, phân tích cuối cùng thì, để kết luận, để tóm tắt, cuối cùng.

Khái quát:
theo thói quen, như thường lệ, chủ yếu, bình thường thì, nói chung thì, thường thì, thường thường.

Khẳng định lại:
Thực chất sẽ là, Nói cách khác, Tương tự, Đó là, Nói điều đó để, Nói ngắn gọn thì, Diễn đạt theo cách khác thì

Đối lập và So sánh:
Ngược lại, Mặt khác, Trái lại, Thay vì đó, Tương tự như vậy, Một mặt thì… mà mặt khác thì…, Đúng hơn là, Giống như vậy, Nhưng, Tuy nhiên, Tuy vậy, Ngược lại thì.

Xâu chuỗi:
Đầu tiên, Trước hết, Để bắt đầu, Đồng thời, Trong thời điểm này, Hiện nay, Bước tiếp theo, Đổi lại, Sau này, Trong lúc đó, Tiếp theo, Sau đó, Hiện tại, Sau thì, Trong khi, Trước đó, Đồng thời, Sau khi, Cuối cùng

Chuyển ý:
Mà này, Một cách tình cờ thì.

Minh họa:
Ví dụ, Ví như, Như thế này

Giống nhau:
Giống như vậy, Tương tự như vậy, Hơn thế nữa

Hướng:
Ở đây, Ở đó, Phía đó, Xa hơn, Gần như, Trái lại, Dưới, Trên, Bên trái, Bên phải, Trong tầm mắt

 (Tổng hợp nhiều nguồn) 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: